Sunday, October 18, 2026

30 Năm Từ Ngày...



Hôm nay, thứ Hai ngày 23 tháng 9. Tiết trời vừa chuyển từ những ngày nắng ấm sang cái se lạnh báo hiệu mùa thu đã về. Nhìn qua khung cửa sổ, ánh nắng vẫn còn dịu dàng trải trên những thảm cỏ, bầu trời vẫn xanh trong như mọi ngày, nhưng những hàng phong trước sân nhà đã bắt đầu nhuộm vàng. Mùa thu lại đến.

Vậy là gia đình tôi đã trải qua hai mươi chín mùa thu trên mảnh đất xa xôi thuộc miền Bắc nước Mỹ này, quê hương thứ hai thân thương của chúng tôi.

Mùa đông ở đây lạnh lắm. Nếu ngồi ở quê nhà và nhìn những hình ảnh tuyết phủ trắng trời, gió lạnh buốt da hay những con đường đóng băng, hẳn nhiều người sẽ tự hỏi: “Làm sao người ta có thể sống và làm việc trong thời tiết khắc nghiệt như thế?”

Quả thật, những ngày đầu đặt chân đến đây không hề dễ dàng.

Gia đình tôi đến Mỹ ngày 30 tháng 11 năm 1983. Chỉ hơn hai tháng nữa thôi là tròn ba mươi năm. Nghĩ lại, có lẽ từ khi sinh ra cho đến bây giờ, chưa nơi nào tôi sống lâu như nơi này.

Tôi đến Mỹ năm bốn mươi bảy tuổi. Trừ một năm sống trong trại tị nạn, tôi đã có bốn mươi sáu năm ở Việt Nam. Trong bốn mươi sáu năm ấy, tôi đã đi qua nhiều vùng đất: Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Đà Lạt, Bảo Lộc, Sài Gòn... nhưng nơi ở lâu nhất cũng chỉ khoảng mười lăm năm. Vậy mà trên vùng đất lạnh giá này, tôi đã sống gần ba mươi năm, gần bằng tất cả những chặng đời dài nhất trước đó cộng lại.

Những ngày đầu thật thiếu thốn. Từ một chiếc áo ấm đúng nghĩa cho mùa đông, đến một chiếc xe cũ kỹ phải đậu ngoài trời để mỗi sáng mất gần nửa giờ cạo tuyết mới khởi động được. Chung quanh toàn những khuôn mặt xa lạ, ngôn ngữ xa lạ, tập quán xa lạ. Cảm giác cô đơn càng làm cho hoàn cảnh thêm khó khăn.

Có lẽ nếu ngày ấy được định cư tại California, nơi nắng ấm quanh năm và có đông đồng hương, cuộc sống ban đầu sẽ dễ chịu hơn nhiều. Nhưng số phận đã đưa mình đến đây. Có lẽ đời mình vốn quen với chuyện phải chiến đấu để sinh tồn, nên rồi cũng đành vui vẻ chấp nhận.

Lúc ấy, chúng tôi thật sự đến đây với hai bàn tay trắng.

Mà nói đúng hơn, trước khi đến Mỹ, chúng tôi cũng chẳng còn gì để mất. Không nhà cửa, không việc làm ổn định. Con cái phải đi học chui vì không có hộ khẩu. Hiện tại mờ mịt, tương lai hoàn toàn vô định.

Nhưng cũng chính trong hoàn cảnh ấy, con người lại trở nên mạnh mẽ hơn. Khi không còn gì để mất nữa, người ta sống liều lĩnh hơn, dũng cảm hơn và dễ thích nghi hơn. Có lẽ nhờ vậy mà cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông miền Bắc nước Mỹ không còn là trở ngại quá lớn.

Cả gia đình bắt tay ngay vào việc xây dựng cuộc sống mới.

Nguyên, con trai cả, lúc ấy mới mười lăm tuổi, đã xin phép nhà trường cho đi làm thêm sau giờ học. Hai năm sau, Vũ nối bước anh mình, tranh thủ làm việc vào cuối tuần và suốt những tháng hè. Rồi đến Châu, cô con gái út, cũng vừa học vừa làm như hai anh.

Cả nhà cùng lao động.

Vất vả thật đấy, nhưng cũng rất vui.

Chính những ngày gian khó ban đầu đã tạo nên trong gia đình một tinh thần lạc quan đặc biệt. Chủ nhật nào cũng vậy, sáu người chen chúc trên một chiếc xe nhỏ, mang theo thức ăn tự chuẩn bị, rong ruổi tham quan những nơi đẹp quanh vùng. Một kiểu picnic rất tiết kiệm, nhưng đủ để mọi người thư giãn sau một tuần làm việc và học hành cực nhọc.

Mỗi mùa hè, sau hai hoặc ba tháng làm việc, gia đình đều dành dụm để có vài tuần đi xa. Chúng tôi thuê một chiếc minivan, chất đầy thức ăn và dụng cụ nấu nướng rồi lên đường.

Những chuyến đi ấy thường không có lịch trình chặt chẽ. Chúng tôi chỉ xác định điểm đến cuối cùng. Trên đường đi, gặp nơi nào đẹp thì dừng lại một hai ngày, không thích thì vài giờ sau lại tiếp tục lên đường.

Ban ngày rong ruổi khắp nơi, tối ghé khách sạn nghỉ ngơi.

Sáu người chỉ thuê một phòng với hai chiếc giường. Bố mẹ một giường, hai chị em gái một giường, còn hai anh em trai trải chăn nằm dưới sàn. Vậy mà ai cũng ngủ ngon và mơ những giấc mơ đẹp.

Đó là kiểu nghỉ hè của một gia đình nghèo nhưng biết tận hưởng cuộc sống.

Ba mươi năm sau, đôi khi chúng tôi thuê những khách sạn sang trọng giá cả ngàn đô một đêm. Thế nhưng, trong ký ức, cái phòng nhỏ giá bảy mươi đô năm nào, nơi sáu người quây quần bên nhau, vẫn là nơi ấm áp nhất.

Nhiều người hỏi tôi:

"Sao không về California sống cho ấm áp hơn, lại có nhiều bạn bè và đồng hương?"

Thật ra, bây giờ chúng tôi hoàn toàn có thể chuyển đến bất cứ tiểu bang nào. Cả hai vợ chồng đã nghỉ hưu từ lâu. Tiền hưu và số tiền dành dụm suốt mấy chục năm lao động cũng đủ để thuê một căn condo nho nhỏ.

Nhưng chúng tôi vẫn ở lại đây.

Lý do trước hết là tôi tin rằng mỗi người được sống ở đâu trên quả đất này đều là một duyên phận. Duyên phận đã đưa tôi đến vùng đất này thì tôi vui lòng đón nhận.

Thứ hai, nơi đây tuy lạnh về khí hậu nhưng lại rất ấm áp về tình người. Cái lạnh bên ngoài có thể chống lại bằng áo quần, bằng lò sưởi và vật chất. Nhưng sự ấm áp trong tâm hồn mới là điều quý giá và không dễ tìm thấy.

Nói cho cùng, vùng đất này chưa bao giờ bạc đãi gia đình tôi. Những khó khăn thuở ban đầu chẳng khác nào cơn gió thử thách một cây non mới trồng. Nay cây đã bén rễ sâu, đã đứng vững qua bao mùa bão tuyết, còn gì phải lo nữa.

Và cuối cùng, như người xưa từng nói:

“Trẻ cậy cha, già cậy con.”

Trong tuổi già, nhất là nơi đất khách quê người, con cái ở đâu thì cha mẹ muốn ở đó. Có lẽ cái lạnh của sự xa vắng con cháu còn đáng sợ hơn cái lạnh của mùa đông giá buốt.

Không biết có phải vậy không?

Mỗi độ thu về, những hàng phong đổi màu lá. Những đàn ngỗng trời lại kéo nhau bay về phương Nam tránh rét. Rồi mùa xuân đến, hoa nở trên cành trước khi lá kịp xanh. Cả thành phố sau mùa đông dài như chiếc lò xo bị nén chặt nay bừng tỉnh và chuyển động trở lại.

Những hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc với tôi, thân thương chẳng khác gì cây đa đầu làng, con đò ngang bến Thương Bạc hay chiếc cầu Trường Tiền bắc qua dòng sông Hương nơi quê cha đất tổ.

Quê hương thứ nhất của tôi là xứ Huế.

Làm sao không nhớ. Làm sao không thương.

Nhưng biến cố của đất nước đã khiến bao người con phải ly tán. Đó là điều không ai mong muốn.

Và rồi quê hương thứ hai này, vùng đất miền Bắc nước Mỹ giá lạnh, đã mở cho tôi một cuộc đời mới. Nó trả lại cho tôi niềm tin, hy vọng và ý nghĩa sống sau những năm tháng lưu lạc.

Đối với một người tha hương trong cơn biến động của lịch sử, đó là một niềm an ủi lớn lao.

Bởi vậy, hôm nay, khi nhìn lại chặng đường ba mươi năm đã qua, tôi chỉ muốn mượn lời của ai đó để nói rằng:

"Xin nhận nơi này làm quê hương."

Lục Phan
Gurnee, Illinois

0 Comments:

Post a Comment

Subscribe to Post Comments [Atom]

<< Home