Wednesday, September 30, 2026

con vet

  Cuối tháng 5 năm 1984, các cháu nhỏ vừa hoàn tất nửa năm học đầu tiên tại xứ sở tự do, sau gần ba năm không được chú trọng đến sách vở. Hai cháu Nguyên (15 tuổi), Vũ (13 tuổi) và tôi lên xe bus Greyhound từ Illinois đi Oregon, theo nhóm người Việt tại đó để làm farm kiếm tiền.

Theo kinh nghiệm của những người đi trước, nếu làm việc suốt mùa hè, ba cha con tôi có thể để dành được khoảng ba đến bốn ngàn đô-la. Đối với một gia đình đến Mỹ với hai bàn tay trắng, số tiền ấy thật lớn và vô cùng cần thiết để bắt đầu dựng lại cuộc sống. Vì vậy, không chút ngần ngại, vừa nghỉ hè là cha con tôi cơm đùm cơm bới lên đường ngay.

Ở Oregon, ba cha con được chia một góc sàn nhà của người quen. Mỗi ngày, chúng tôi theo gia đình họ ra ruộng hái dâu, hái dưa leo, hoặc làm trong nhà máy sơ chế dâu tây. Rời nhà từ 5 giờ sáng, lăn lộn với ruộng dâu đến 5–6 giờ chiều mới về đến nơi. Làm sáu ngày một tuần, có tuần làm cả bảy ngày: khi thì ruộng dâu, khi thì nhà máy, quần quật hết ngày này qua ngày khác.

Sau ba tháng làm việc hết sức nhọc nhằn, trừ đi tiền xe bus và chút ít tiền ăn, ba cha con tôi còn thừa đúng ngàn đồng. Như thế là đạt chưa tới 30% của "đại kế hoạch" đề ra lúc đầu!  Có còn hơn không, phải tự an ủi! Dầu sao thì cha con tôi cũng đã được hưởng một đợt “vacation” dài miễn phí, và ngày nào cũng được ăn những quả dâu tây to nhất, tươi nhất, và ngon nhất!

Trở lại Illinois với một ngàn đô-la vừa kiếm được, tức tốc tìm mua ngay một xe cũ để làm chân chạy kiếm cơm cho gia đình! Có lẽ câu chuyện khá khôi hài, không giống ai, bắt đầu từ chuyện con xế sắp mua.





Sau vài ba ngày lần mò trong các báo quảng cáo, chúng tôi cũng ghi được khoảng năm địa chỉ bán xe cũ, nằm không xa khu vực tôi ở và giá cả cũng vừa tầm với túi tiền rất khiêm tốn của mình.

Phải chờ đến ngày Thứ Bảy mới nhờ được người quen đưa đi xem xe. Trước đây gia đình tôi từng có vài chiếc xe khách chạy tuyến Đà Nẵng – Quy Nhơn, và cũng có người trong nhà có xe riêng, nhưng bản thân tôi từ nhỏ đến lớn chưa hề sở hữu chiếc xe hơi nào. Chiếc duy nhất tôi từng dùng là chiếc Jeep của nhà trường phân cho khi tôi làm Giám học trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc. Vì vậy, việc đi mua một chiếc xe cũ khiến tôi thấy khá vui – chiếc xe đầu tiên của đời mình mà!

Chiếc đầu tiên tôi xem là chiếc Buick đời 1976, chủ đòi 1.100 đô-la. Xe rỉ sét nhiều, tiếng máy không êm, khói đen phun ra khá mạnh. Thấy chúng tôi không mấy hào hứng, chủ xe có ý định giảm giá. Nhưng tôi vốn không rành máy móc, lại thấy xe quá lớn nên không muốn mua. Chúng tôi cảm ơn rồi đi, không trả giá.

Chiếc thứ hai là chiếc Ford đời 77 hay 78, tôi không nhớ rõ. Thân xe còn sạch sẽ, máy chạy êm, nhưng cả bốn bánh đều quá mòn, và bộ thắng phải thay theo lời chủ xe. Giá 700 đô-la. Người quen ước tính phải tốn thêm 700–800 đô-la sửa chữa mới chạy an toàn. Vượt quá ngân sách, nên đành bỏ.

Còn ba nơi nữa chúng tôi đã hẹn xem trong ngày. Sau khi xem lại các ghi chú, chúng tôi quyết định đến một nông trại khá xa, nơi rao bán chiếc Chevrolet Chevette đời 1980, dưới 70.000 miles, một đời chủ, giá 1.150 đô-la.

Lái hơn nửa giờ mới đến nơi. Nông trại rộng lớn, và vì đã hẹn trước, họ nhận ra chúng tôi ngay khi vừa đến. Chúng tôi cũng biết mình đến đúng chỗ vì chiếc Chevette nhỏ màu xanh lạt đang đậu bên hè, cạnh bốn, năm chiếc xe khác.

Vừa nhìn qua tôi đã có cảm tình: xe nhỏ, dễ lái, thân xe gần như nguyên vẹn (cái tật coi trọng bề ngoài!). Người quen xem máy móc và lái thử khoảng năm miles, không thấy vấn đề gì lớn. Chủ đưa giấy tờ: Chevrolet Chevette 1980, số tay, một đời chủ, đồng hồ báo 67.000 miles. Thời giá lúc đó, xe mới khoảng 4–5 ngàn đô-la.

Tôi trả 700, họ không bán (thật ra xe chỉ đáng 300–400 thôi). Cò kè một lúc, họ chịu bán 800 đô-la, với điều kiện trả tiền mặt và mua ngay trong ngày.

Tôi không nghĩ ngợi gì nhiều: trả tiền mặt là chuyện đương nhiên, tôi làm gì đã có check mà trả. Tôi lại cần xe càng sớm càng tốt để đi làm và đi học. Thêm nữa, tôi sợ nếu không mua ngay thì người khác mua mất. Đúng là một anh chàng “cù lần” mới nghĩ như thế. Thế là tôi rút tiền ra mua ngay, và nhờ người quen lái xe về, vì tôi lúc đó vẫn chưa có bằng lái.

Sáng Thứ Ba, tôi đi sang tên xe, mất mấy chục đô, rồi mua bảo hiểm hết 130 đô-la cho sáu tháng. Vậy là tiền làm ruộng của ba cha con trong ba tháng đủ để tậu một chiếc xe hơi cũ – “Con Vét” – nghe cũng ra vẻ hàng hiệu lắm chứ!

Con xế đầu đời của tôi thuộc loại “đẳng cấp”: Nhất Mẹc, Nhì Bi, Tam Ri, Tứ Vét. Nghe mà thấy mình cũng có chút tự hào.

Vài hôm sau, nhờ người quen đưa đi thi, tôi lấy được bằng lái. Từ đó, gia đình không còn phải cuốc bộ nữa. Cả nhà vui lắm, nhất là mấy đứa nhỏ. Nhờ “Con Vét” già này, tôi có phương tiện trở lại trường Đại học cách nhà khoảng 30 miles, và cũng nhanh chóng kiếm được một việc làm gần trường. Tôi làm từ 7 giờ sáng đến 3 giờ chiều, rồi vào lớp từ 4 giờ đến 9 giờ tối.

Những ngày cuối tuần, cả gia đình năm người chen lên “Con Vét”, chạy vòng vo khắp vùng. Thường chúng tôi chạy dọc bờ hồ Michigan, hoặc đến những thắng cảnh như Lake Geneva, Botanic Garden, hay Indiana Dunes. Thấy chỗ nào đẹp thì dừng lại chơi. Bà xã tôi lúc nào cũng chuẩn bị sẵn bánh mì thịt hoặc cheese, thêm vài lon nước ngọt cho bữa trưa ngoài trời.

Niềm vui ấy chẳng kéo dài bao lâu. Chỉ khoảng bốn tháng sau ngày rước về, “Con Vét” bắt đầu trổ chứng. Đầu tiên là đồng hồ báo xăng chết hẳn. Vài lần xe cạn xăng giữa đường, tôi phải cầm bình xăng phụ đứng bên lề, giơ ngón tay cái xin quá giang. May mắn là lần nào cũng gặp người tốt bụng, thường là các bác tài xe truck lớn tuổi, chở tôi đến cây xăng gần nhất. Mua một gallon xăng xong, tôi lại đứng mé đường xin quá giang quay về xe mình.

“Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí” quả không sai. Chuyện đồng hồ xăng chưa xong thì đến lượt anh “ống bô” gây phiền. Gần cả tháng, tiếng máy nổ nghe muốn điếc tai. Chui xuống gầm xe xem, tôi thấy hệ thống ống bô hư nhiều chỗ. Lại ra tiệm phụ tùng mua đồ về băng bó. Băng chỗ này, vài tuần sau lại bể chỗ khác. Gần như tuần nào tôi cũng phải chui xuống gầm xe. Đến một lúc, tôi phải dùng dây đồng cột ống bô vào sườn xe.

Một hôm, trên đường đi làm về, bỗng nghe tiếng máy nổ chát chúa, hơn cả tiếng xe tăng. Tấp vào lề, nhìn lại phía sau thì thấy cái muffler nằm giữa đường! Tôi nhặt lên, bỏ vào cốp rồi chạy tiếp về nhà. May không gặp cảnh sát giao thông. Hôm sau lại chui xuống gầm xe băng bó tiếp.

Rồi đến bơm nước, bố thắng, dây cu-roa, bộ đề, hộp số tay… hết cái này đến cái khác thay nhau hỏng. Đúng là “Con Vét” bị ung thư nặng: lục phủ ngũ tạng, tim gan phèo phổi đều sắp rã.

Tệ nhất là một hôm trên đường đi làm về, xe chỉ sập một ổ gà rất cạn, vậy mà cả phần bánh trước phía passenger đứt rời khỏi thân xe! May không xảy ra tai nạn. Tôi thuê xe cẩu về nhà, rồi đến bãi junkyard tìm đồ sửa. May sao trong bãi có một chiếc Chevette đời 80 bị tai nạn nặng phía người lái, nhưng phía passenger còn nguyên. Người ta dùng mỏ hàn cắt phần tôi cần, bán 50 đô-la.

Đem về nhà, tôi đặt phần mới lên phần rỉ mục, khoan xuyên hai lớp gần hai chục lỗ, rồi kẹp lại bằng bù-loong con tán. Mất trọn một ngày Thứ Bảy và thêm buổi sáng Chủ Nhật làm việc cực lực, với sự phụ giúp của thằng con trai thứ hai, mới xong.

Theo lẽ thường, bỏ xe đi mua chiếc khác còn lợi hơn. Nhưng “cái khó bó cái khôn”: tiền để dành chưa đủ. Bà xã tôi và thằng con trai lớn 15 tuổi cũng phụ tôi kiếm sống. Bà xã làm bán thời gian cho một trường của Nhà Thờ, còn cháu Nguyên làm cho tiệm Beauty Supply ở Downtown Waukegan sau giờ học. Vài ba tháng để dành được vài trăm bạc thì lại gửi về Việt Nam giúp người thân, nên chưa bao giờ có được vài ngàn trong tay.

“Con Vét” càng ngày càng tệ. Sau gần hai năm, máy rã rời, chạy hết muốn nổi. Có người giới thiệu tôi đến một thợ sửa xe người Việt làm cho hãng GM, sửa xe tại garage nhà để kiếm thêm. Sau khi xem xét tình trạng xe và con số hơn 100.000 miles trên đồng hồ, anh khuyên tôi đừng sửa nữa, chỉ phí tiền. Anh nói xe tôi hiện tại không quá 100 đô-la.

Tôi thấy lời khuyên chân thật. Đưa xe về, tôi nghĩ bụng: chạy được ngày nào hay ngày ấy, đến khi nó chết thì vứt luôn.

Tôi ráo riết tìm mua một chiếc xe cũ khác, vì đoán chừng “Con Vét” của mình khó sống thêm nổi một tháng nữa. Chiều Thứ Sáu hôm ấy, tôi được về sớm. Trời mưa lâm râm trên đường đi làm về. Đến một ngã tư có đèn đỏ, cách nhà khoảng mười miles, tôi dừng xe và trả về số “N”. Bất ngờ một tiếng rầm vang lên. Tôi không kịp hiểu chuyện gì xảy ra, cũng không kịp phản ứng. Khi hoàn hồn, mới biết xe tôi đã bị húc từ phía sau, văng tuốt qua bên kia ngã tư. May mắn là không bị xe nào đâm ngang hông.

Người tông xe tôi là một bà khoảng sáu mươi tuổi, lái một chiếc xe khá lớn. Thật ra cú húc không mạnh, nhưng vì xe tôi quá nhẹ, lại đang để số “N” và không đạp thắng, nên cứ thế mà bay qua ngã tư. Xe tôi bị móp nặng phía sau, còn xe bà ta thì không hề hấn gì. Tôi vẫn ngồi trong xe, bà chạy đến xin lỗi và hỏi thăm. Nhiều người chứng kiến đã đưa tôi business card, nói sẵn sàng làm chứng. Khoảng mười lăm phút sau, cảnh sát đến lập biên bản. Tôi thành thật cho biết mình không thấy gì bất thường trong người. Họ cho xe kéo “Con Vét” về bãi giữ, rồi chở tôi về nhà.

Hai ngày sau, nhân viên hãng bảo hiểm của bà ta gọi cho tôi. Tôi lại thành thật cho biết đến lúc đó vẫn không sao. Một tuần sau họ gọi lại, hỏi tôi muốn sửa xe hay nhận tiền bồi thường. Tôi chọn nhận tiền, và họ đồng ý trả 850 đô-la. Tôi gửi bản chủ quyền xe (Title) cho họ, và họ gửi check cho tôi. Nhờ số tiền bất ngờ này, tôi mua được một chiếc xe cũ khác – Plymouth Le Baron – giá 2.600 đô-la.

“Con Vét” đã giúp tôi rất nhiều, nhưng cũng hành tôi đến nơi đến chốn trong hai năm chung sống. Dù vậy, tôi phải thừa nhận nó có nghĩa tình. Đến lúc không thể sống với nhau được nữa, phải đi “hóa kiếp”, nó vẫn không quên để lại cho tôi một món quà hậu hĩ.

Gurnee – March 30, 2010

---

0 Comments:

Post a Comment

Subscribe to Post Comments [Atom]

<< Home