Hình như mùa thu đã đến thực rồi. Nhìn ra cửa sổ thấy bầu trời xám đi. Tôi vén rèm nhìn xa hơn, hàng cây xanh đã loáng thoáng có những đốm vàng. Chỉ còn mấy tháng nừa là qua hết một năm. Ngẫm nghĩ thấy buồn cười, lúc còn trẻ chưa khi nào đếm thời gian đến hay đi, mỗi buổi sáng thức dậy náo nức nghĩ đến những điều phải làm và những vui chơi sắp đến. Bây giờ tính ngày tháng đi qua, có phải là đang đếm từng bước để chuẩn bị rẽ vào exit của đời người.

Tính ra mỗi năm đều đã có dịp đi được rất nhiều nơi. Tháng 1 đi 2 tuần, một tuần ở Cali, một tuần ở LasVegas; tháng sáu đi hai tuần ở đảo Saint Martin; tháng bảy đi gặp bạn bè Phan châu Trinh ở Cali; tháng tám ra biển mấy ngày, đủ lắm rồi. Mùa lạnh sắp đến, tiểu bang Virginia với những luồng gió lạnh cóng và những ngày tuyết phủ trắng xóa đã giữ chân mình trong phòng kín. Đó là thời gian để diện bích. Vừa để nhớ kỹ niệm, vừa tiếc nuối và sám hối. Tuổi đời trên sáu mươi không phải là đã gây ra quá nhiều lầm lỗi hay sao? Cầu nguyện không có nghĩa là xin Thượng Đế tha thứ mà tự bản thân gánh trách nhiệm của tội lỗi. Có thể ý nghĩ quá khích này đã làm cho bản thân mình đọa đày và nhiều trăn trở. Nhưng nếu mỗi ngày tôi quì gối cầu nguyện Chúa tha tội cho tôi thì những vết thương trên mình Chúa vẫn phải rỉ máu hoài.

Tôi vẫn cảm thấy vui một mình trong căn phòng nhỏ, trong một thế giới hiu quạnh. Những ngày trăn trở đau khổ đã nguôi ngoai. Lửa trong tim đã tắt, đã biết bỏ xuống những gì phải bỏ. Còn một đoạn đường nữa phải vững chắc đi qua. Đoạn đường của quá khứ mang rất nhiều hạnh phúc và cũng rất nhiều đau khổ. Nhưng đó là cuộc đời của mỗi đơn vị người. Với tôi bây giờ, một ngày nào đó, rời khỏi nhân gian chắc chắn không có một chút gì phải hối hận. Nếu phải quay trở lại thời gian 50 năm trước, tôi cũng vẫn chọn con đường hôm nay.


Bây giờ mỗi tối, tôi vào phòng rất sớm mở laptop đọc email của các bạn. Ba năm qua rồi, không phải, hình như đã gần tám năm, tôi không thấy anh cười, không nghe anh nói. Anh bỏ tôi đi rồi, sự thật là vậy, nhưng xung quanh tôi, đầy ấp hình ảnh anh. Yêu một người rất đau khổ, nhưng muốn quên một người càng đau khổ hơn.

Tự nhiên trời trở gió dữ quá. Hàng cây ngoài kia rạp xuống và từng loạt lá vàng khô chạy trên những mái nhà đen bóng. Chiều nay mở “Đặc san kỷ niệm trường xưa “, đọc bài thơ: ”Nốt trầm cuối của khúc tình ca“ của thi sỉ Trần Đại Tăng sáng tác tặng nhạc sĩ Trần Đình Quân ngày ông mất:

Anh trở về mái tóc phong sương
Vầng trán lạnh nụ cười xa vắng
Bỏ lại đằng sau âm vang cuộc sống
Hồn như mây một buổi trời chiều

không biết tại sao trong lòng như có một phiến đá đè nặng.

Mỗi ngày vẫn tự nói ”ta đang nói lời vỉnh biệt với chính ta“. Sẽ không buồn, không giận, bỏ bớt những tạp niệm. Nhưng có được không? Ta đối diện với người, còn hơi thở của trời đất, quay quắt nỗi đau nhân thế, trái tim này thật đã không còn chút lửa hay sao?
 
Buổi tối mở email thấy các bạn gửi tin về trận bảo lớn ở các tỉnh miền Trung với rất nhiều hình ảnh đổ nát. Tôi buồn quá! Sẽ làm gi` bây giờ? Chúng ta sẽ làm được gì? Thân nhân của tôi, bạn bè tôi, đồng bào tôi, họ đã ra sao rồi? Thân xác họ đã rướm máu vì roi vọt của thế gian, sao ông trời còn không thương xót. Suốt đêm không ngủ được, mắt cứ trao tráo mở như nhìn thây một Đà Nẵng vật vã trong gió bảo.

Ngày hôm nay đáng lẻ là ngày vui, vì các con dự định tổ chức sinh nhật buổi chiều cho tôi. Tôi gọi phone hủy bỏ. Chúng thắc mắc hỏi tại sao. Tại sao? Quê hương quá nhiều đau khổ. Thân nhân bên kia đang nhỏ máu và nước mắt. Thế hệ các con bây giờ làm sao thấu hiểu được hết những đau khổ mà dân tộc chúng ta đã trải qua. Ngày đi dự lễ ra trường của các con , những khuôn mặt rực rở niềm tin, đôi măt nhìn thẳng sáng ngời, và bàn tay ôm lấy trái tim say sưa hát bản quốc ca của Mỹ. Tôi cảm động vì các con đã có sự thành công. Nhưng đồng thời là một nỗi xót xa vì tôi biết các con tôi chưa bao giờ biết hát quốc ca của nước mình.

Niềm đau mất nước, mất nhà vẫn âm ỉ trong lòng mỗi chúng ta. Khoảng mười năm trước, có một tuần lễ về văn hóa, Nghĩa được mời trình diễn ở Malaysia. Chế Linh hát những bản nhạc “Songs of Champa“. Đó là tiếng quốc gọi hồn nghe đứt ruột đút gan, là tiếng khóc thê thiết của người dân mất nước. Lúc anh trình diễn trên sân khấu, những người cùng dân tộc với anh đã nghẹn ngào khóc. Còn tôi thì sao? Tôi đứng trong hậu trường, trái tim tôi cũng tan nát. Tôi cũng đã mất tất cả, “Mất cả sơn hà cứ tưởng như mơ.“

Những năm Nghĩa mới mất, tôi hay về Việt Nam. Lòng tha thiết muốn thăm lại đồi thông Mỹ Thị, nơi đã khắc một vết hằn sâu sắc trong suốt cuộc đời tôi. Quê hương Đà Nẵng tuổi nhỏ và tình yêu mãi mãi ấp ủ trong trái tim tôi. Hương sầu đông ngan ngát và những cánh phượng đỏ lát đường cho mỗi bước chân rộn rả đi về.

Dựa vào một số sách vở tôi muốn ghi xuống giới thiệu vắn tắt về Đà Nẵng. Vịnh Đà Nẵng hay bán đảo Sơn Trà hay Tiên Sa là một phần sính lễ đắc giá của vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng cho vua Trần Nhân Tông trong năm 1305 để cưới công chúa Trần Thị Huyền Trân, gồm 2 Châu Ô và Châu Lý (Đà Nẵng nằm trong Châu Lý). Vịnh Đà Nẵng là một phần của biển Đông Hải, ôm choàng bởi một nhánh của dãy Trường Sơn đâm ngang ra biển Đông. Nhánh núi này như một cánh tay vươn ra để dành biển rồi chìm sâu xuống biển để tạo một cửa rộng cho thuyền bè ra vào và nổi lên lại làm thành bán đảo Sơn Trà và núi Sơn Trà (trích trong Đặc San Quảng Đà).

Đà Nẵng còn là địa chiến đưa đến sự khốn cùng của Chúa Nguyễn, một mặt bị quân chúa Trịnh tấn công từ phía Bắc , một mặt bị quân Tây Sơn công hảm từ phía Nam. Đà Nẵng là nơi đầu tiên giáo sĩ Tây Phương đến truyền đạo Thiên Chúa. Đà Nẵng trong bước đầu của lịch sử vong quốc cũng là giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử của thành phố này, bắt đầu bằng hai cuộc tấn công mở màn của liên quân Pháp, Tây Ban Nha năm 1858 (trích trong Đặc San Quảng Đà).

Sách vở nói nhiều về Đà Nẵng, nhưng tôi vẫn khao khát muốn tìm kiếm lại chút dư hương về Đồi Thông Mỹ thị. Thời gian mấy chục năm qua, vẫn là những kỷ niệm ngọt ngào của những ngày học trò trường Phan Châu Trinh đi cắm trại. Ban đêm nằm trong lều vải lắng nghe tiếng thông vi vút êm ã, tiếng sóng ở xa vổ vào ghềnh đá, tiếng chim biển gọi đàn thê thiết. Có phải không, nơi đó đã nở ra một nụ hoa tình yêu làm dấy động một giòng sông không bảo tố. Vẫn biết “một phút giây an lạc đáng sống hơn một đời hệ lụy”, nhưng trong tình yêu vẫn dấu kín một ẩn số mà cả một đời người cuối cùng vẫn không tìm ra đáp số.

Trong tác phẩm : “Chuyện dọc đường“ của nhà văn Phan nhật Nam trích từ: ”Bắt đầu từ một đêm trăng“ ông viết:
”Trên sóng nước, giữa giòng trăng, từ con đò len lõi trong hàng lau sậy, bạn tôi đưa ống sáo lên môi. Anh dùng nguồn thanh âm của tre trúc thay tiếng lời. Những nội dung mà ngôn ngữ bình thường hạn hẹp không nói được. Từ trên đồi cao mấy trăm học sinh ngồi dậy. Họ đồng im lặng nghe giữa hơi gió cuốn lá sóng trăng miên man thanh âm chuyển động kỳ ảo. Giọng thanh tiêu ca ngợi tỏ tình. Người thiếu nữ đã nhận ra âm động của người thương yêu đến cùng cô theo tiếng tre trúc. Và Nguyễn đình Nghĩa cùng Trịnh diệu Tân đã nuôi dưởng vượt sóng hiện thực tình yêu hằng suốt hơn bốn mươi năm từ đêm hè không hề mất độ sáng và âm thanh tiếng sáo vĩnh viễn màu trăng………”.


Tôi trở về Đà Nẵng đứng ngẩn ngơ giữa giòng người xa lạ, cảnh đời xa lạ. Trường Phan châu Trinh ở đâu, đi hướng nào? Người thân tôi đâu, bạn bè ở đâu? Con đường Ông Ích Khiêm với hai hàng cây rậm mát và mấy gốc sầu đông lướt thướt là hành trang ở một góc đời của tôi. Đã rất nhiều đêm tôi mơ thấy đồi thông Mỹ Thị, mường tượng rất nhiều hạt thông đen chạy lăng xăng theo những làn sóng cát. Sẽ không còn gì nữa. Ngày bắt đầu tình yêu, Nghĩa đã sáng tác tặng tôi bản: “Đoạn Trường khúc”. Khúc sáo này thật sự đã làm tan nát lòng người cỏ cây ủ rủ, trăng sao nhạt nhòa. Bao nhiêu năm đã qua, tưởng đã quên đi, nhưng ngày anh bỏ tôi vĩnh viễn chỉ để lại cho tôi một khúc đoạn trường. Sau khi đậu tú tài bán ở Phan châu Trinh tôi chuẩn bị ra Huế học đệ nhất trường Quốc Học. Chỉ học một năm, nhưng nơi đây đầy ắp niềm vui nỗi nhớ.


Ngày đầu ra Huế trên chiếc xe đò hiệu Citroen ì ạch nhả khói bám theo từng con dốc khúc khuỷu giống như một nhà leo núi về chiều. Tôi ngồi thu mình bên trong xe nhìn ra phía biển, từng lớp sóng xanh nối nhau vỗ vào chân núi trùng điệp, những bọt sóng tung cao dưới chân đèo. Vài chú hải âu bị gió bạt đang ngã nghiêng theo triền núi. Nhìn mấy cánh hải âu trong lòng cảm chút bùi ngùi. Tôi quay đầu nhìn lại phía kính sau xe. Mây trắng vần bay đầy đỉnh Tiên Sa, và những khuôn mặt bạn bè cũng bay theo với tôi. Xe dừng lại ở đỉnh đèo Hải Vân, tôi khoát chiếc áo len cùng mọi người xuống xe. Một khung cảnh làm tôi choáng ngợp. Mây bay phả vào mặt, quyện theo từng hốc núi, mõm đá, lung linh như cả trái núi đang bay. Đây là chổ tiếp giáp của hai cánh tay Trường Sơn. Cánh trái từ Thanh Nghệ Tỉnh vào, và cánh phải từ Cao Nguyên đổ xuống. Hải Vân Quan là hai bàn tay chấp lại hướng về phía mặt trời mọc. Hay đây là hai cánh tay của cha Rồng và mẹ Tiên nắm lấy nhau một lần cuối trước khi Mẹ lên rừng, Cha xuống biển. Tiếng của mấy chú hải âu lãng tử lại kêu vang. Theo đôi cánh chập chùng của loài chim biển, tôi nhìn xuống những con đường đổ dốc, từng luống hoa vàng nở rộ vàng ngát cả con đường đèo. Những cơn gió biển thổi qua, hoa vàng lung linh và những cuống lá bật theo chiều gió một màu bạc óng ánh như trùng trùng những cánh chim biển đang bay về nơi trú ngụ. Xuyên qua những tảng mây mù, lung linh những tia nắng vàng luồn theo bóng núi, hắt ngang những vệt nắng trên đôi cánh của đàn chim hải âu, trông như những ngọn nến vàng được đốt lên từ những cánh chim để mừng những xiêm y còn sót lại của Huyền Trân Công Chúa đã đi qua đỉnh đèo này. Như vẫn còn vang vọng trong những ngọn gió núi, tiếng khánh, tiếng cồng, những hồi trống, tiếng nhã nhạc, những đoàn hầu kỳ cờ xí ngớp trời cùng với Chiêm Vương và triều thần Chiêm Quốc đang đứng ở trạm cung nghinh đầu tiên để mừng đón người ngọc thành Thăng Long. Đôi gót sen của Trần Thị Huyền Trân đã bước những bước đầu tiên lên đất đai của Chiêm Quốc và nở ra cả một chiều dài lịch sử mở nước. Tôi dõi mắt theo hướng đèo về phía kinh thành Huế, bạt ngàn một màu hoa vàng lung linh theo gió, điểm xuyết vào những màu lục bạc của lá như một đoàn phượng bay. Có phải đó là chiếc cẩm bào của phụ hoàng Trần Nhân Tông đã khoát lên mình người con yêu Trần Thị Huyền Trân trước giờ ly biệt, mà công chúa đã để lại cho núi rừng ở biên địa cuối cùng của Châu Hóa này trước khi hòa mình vào với âm thanh nhã nhạc, cờ xí ngợp trời ở trạm cung nghih của Chiêm Vương. Những suy tưởng, ngọn gió núi, vàng hoa, những cánh chim biển, và những sợi mây theo tôi trên chuyến xe về kinh thành Huế.

Tôi ở Huế một mình thật buồn lắm. Mỗi sáng, mỗi chiều thả bộ từ nhà, cạnh cồn Giã viên đến Quốc Học khoảng 15 phút. Chiều về ra ngồi ở cầu ao thả chân xuống giòng nước sông Hương êm đềm và kỳ bí. Huế đã bắt đầu đi vào tâm thức của tôi. Lần lần tôi khám phá ra rằng Huế là một tổng thể giữa cái tịch lặng và biến động, giữa cái thường trụ bất biến lại đầy những biến dịch trong mỗi hồi chuông rót vào thinh không, trong mỗi tiếng chim kêu trên ngọn phế thành. Hảy lặng nhìn giòng sông Hương đài các chuyển mình qua trước kinh thành xanh thẳm một màu cùng với trời núi. Khi mặt trời vừa ngã sau rặng Trường Sơn trong một khoảnh khắc, giòng Hương chuyển mình thành một màu tím ngắt trước khi hòa mình vào bóng đêm. Đêm Huế tịch lặng, thơm ngát trầm hương. Hoa quả cũng mượn đất đá thâm tình mà đơm bông kết trái. Bên ngoài sen nở rộ hương ngọc lan dạ lý bay ngát cả kinh thành. Trong hoàng cung, nơi vườn thượng uyển bổ hoang có đóa kỳ hoa nào nở trong đêm nay? Và trên ngọn phế thành một vài tiếng cú kêu sương. Có ai nghe tiếng thở dài của hai dãy súng thần công bên chân kỳ đài? - Trên đồi thông Long Thọ, có tiếng sáo của ai vừa thả vút trên bến sông. Nụ sứ vàng lung linh trong gió, và tiếng chuông bên kia triền núi lại rót vào hư không như một lời rao giảng về sự hạnh ngộ của chiếc lá và giòng song. Tôi ôm Huế vào lòng và đi vào với sông nước phù sa. “Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai”, những sáng những chiều với giảng đường, những Kỹ niệm đổ về ồ ạt với bao nhiêu là mộng tưởng. Ngày học lớp đệ tam, anh Lê Tử Thành đề nghị lập một nhóm văn thơ, tôi còn nhớ lúc đó có tôi, anh Nguyễn Hửu Cương, chị Bạch Lý và mấy anh nữa. Cứ mỗi tháng là phải có một bài viết để đọc lên cho cả nhóm nghe và phê bình. Bài của anh Lê Tử Thành mở ra là một bài nghị luận nặng ký, văn chương sắt bén hình như nói về hành trình của loài người. Đến lúc bài tôi mở ra với tựa đề: “Trăng nửa mảnh “, bây giờ nghĩ lại tôi cảm thấy tức cười vì tính yếu đuối của mình đã biểu lộ trong văn chương. Văn chương biểu lộ tâm tư của mình, đồng thời cũng biết được một phần tương lai và sự nghiệp của đời người. Anh Lê Tử Thành là giáo sư đại học, đó là sự nghiệp vững chắc của anh. Còn tôi vào Sài gòn học năm Luật đầu tiên, ĐoanTrang ra đời đã bỏ dở năm thứ hai. Rồi bận rộn với chồng con đến bốn năm sau mới ghi tên học đại học Vạn Hạnh. Năm 1972 ra được Cử nhân kinh tế thương mại thật sự rất mệt mõi, nhưng vẫn muốn học thêm 2 năm cao học. Có một điều là bao năm trải qua vất vả với sách vở, tôi thật sự chưa bán được đồng bạc nào với chữ nghĩa của tôi.

Có rất nhiều người đã tò mò hỏi tôi: “Nghĩa đẹp trai, nổi tiếng và sống cuộc đời nghệ sỉ như vậy, bạn làm sao giữ được Nghĩa đến phút cuối cùng“. Lúc đó tôi không biết trả lời ra sao. Tôi cũng chưa từng thắc mắc hỏi tôi tại sao. Tình yêu là một điều rất kỳ bí mà mỗi người cảm nhận đều khác nhau. Nhiều khi ta nghĩ là đã yêu người đó, và đã chạy đuổi bắt nó, nhưng thật sự không phải, đó chỉ là cái bóng của tình yêu. Hảy uống cạn hết chén đau khổ trong tim sẽ nhìn thấy đóa kỳ hoa tình yêu nở rộ.

Cả tháng nay buồn quá không viết được chữ nào. Sắp đến ngày giỗ thứ năm của Nghĩa rồi. Tháng 12, Virginia tuyết sẽ rơi. Tôi cứ ngẩn ngơ đứng bên cửa sổ nhìn ra ngoài hàng giờ trong đầu trống rổng. Thật ra trước hay sau cũng vẫn phải đi. Chúng ta còn nặng nợ với thế gian nhiều qua những níu kéo làm mình phải trở lại. Sẽ trở lại như thế nào đây? Tôi muốn viết xuống bài thơ của Mẫn Giác thiền sư,

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đến bách hoa khai
Sự trục nhản tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Tiền đình tạc dạ nhất chi mai


Xin tạm dịch:

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.


Ải trần gian đã trải qua rất nhiều đau khổ. Tôi chỉ là kẻ bên lề chứng kiến những thảm kịch đã qua. Anh Duy Khánh là người bạn thân của chúng tôi. Ngày tôi sinh cháu Đoan Trang, trên căn gác nhỏ anh ôm đàn hát bản nhạc mới sáng tác ”Hỏi em rằng em ở ngoài ấy ra sao? Má xưa còn thắm hoa đào…… “ Mấy chục năm qua chỉ như một giấc mơ. Ngày được tin Duy Khánh mất, 2 giờ sáng trong căn phòng khách tối om. Tôi bật đèn thấy Nghĩa gục đầu khóc. Nửa năm sau Nghĩa cũng ngã lúc đang trình diễn trên sân khấu ở New York.

Tôi rất cảm ơn Thượng Đế đã ban cho tôi một cuộc sống không trải qua nhiều sóng gió, được nuôi dưởng bằng âm nhạc và tình yêu. Không biết tại sao trong mơ hồ tôi vẫn nghĩ ở một tiền kiếp xa xôi nào đó tôi là một ni cô phạm vào sắc giới sa vào lưới tình tội lỗi, kiếp này phải trả cho hết nghiệp duyên.

Hồn anh chạm lá vàng rơi
Ni cô nhặt được, lên đồi dâng kinh

Tôi muốn ghi lại những gì đang nghĩ đến. Có một ngày sẽ không suy nghĩ gì được hết. Trong cõi tịch lặng của nhân gian sẽ thiếu đi thêm một người. Nhưng cuộc đời như một giòng sông. Cuối cùng soi mặt vào bóng nước và tự buông hết những gì còn lại để trôi đi tất cả. Còn lại chăng là hạnh phúc ngậm ngùi mang theo

Anh hồn bướm sa vào cơn mộng mị
Em mơ tiên ngữa mặt đón sao trời
Cung đàn vở anh sa vào kiếp nạn
Tội tình em say khướt uống đoạn trường


Tháng 12, đã sắp hết năm. Virginia trở lạnh. Ngày giỗ của Nghĩa lại đến. Ngày Christmas năm xưa, màu áo trắng nữ sinh tinh nguyên tôi đón nhận tình yêu vào đời. Thời gian năm mươi năm qua cũng màu áo trắng thêm vành khăn tang. Tôi đứng ngơ ngác nhìn mộ phần, xung quanh giá buốt. Có một lúc nào đó, tôi nhắm mắt, hình như đang lắng nghe tiếng hát của ai vang vang ……..”vì sao và vì sao, ta đã mất nhau, vì mặt trời không thể chia đôi, và mặt trăng muôn đời lẻ loi ……”

Trịnh Diệu Tân
Ngày 31 tháng12 năm 2010