Nguyễn Tất
Cuối tuần, khu Tiếp Tân của quân trường Bộ Binh Thủ Đức đông như ngày hội. Máy phóng thanh không ngớt kêu tên những khoá sinh ra chổ hẹn khi có thân nhân tới thăm. Tôi và Khánh, người bạn cùng khóa, cùng phòng, vào những giây phút nầy, luôn luôn ở trong tình trạng “báo động”, lắng nghe từng tiếng gọi, từng tiếng hú từ loa phóng thanh, hy vọng nghe tên mình để được nhìn thấy người thân.

Giường tôi và Khánh sát cạnh nhau. Sau những ngày tập luyện mỏi mệt, đêm về chúng tôithường tâm sự, an ủi, khuyến khích nhau khi gặp những chông gai, vấp ngã trong thời gian khổ luyện ở đây. Tuy mới quen nhưng chúng tôi đối xử với nhau như anh em từ kiếp trước.
Gia đình Khánh ở ‹à Lạt. Cha mẹ là chủ một đồn điền trồng trà ở Bảo Lộc, cách Đà Lạt gần một trăm cây số. Khánh bị động viên ngay sau khi đậu Tú Tài II. Còn tôi phải xếp bút nghiên để lên đường tòng quân sau một vài năm học ở Viện Đại Học Đà Lạt. Vì vậy chúng tôi có rất nhiều kỷ niệm về xứ mù sương để kể cho nhau nghe.

Hôm nay là tuần lễ thứ ba chúng tôi mong ngóng người thân vào cuối tuần. Năm điếu thuốc đã đốt lên và đã tàn rụi, hy vọng từng giây từng phút của chúng tôi tưởng rằng đã bay theo khói thuốc. Bất chợt, tên của Khánh được gọi lên, báo cho biết có gia đình tới viếng thăm. ‹ang thiu thỉu thả hồn theo làn khói nhạt của điếu thuốc trên tay, Khánh giật mình, nhảy phóc xuống giường, phủi sơ bộ quần áo, định bước đi nhưng rồi quay lại, chồm qua giường, bắt tay tôi. Với đôi mắt hơi ướt vành mi, Khánh nghẹn ngào, tao không biết lúc nào mới tới phiên mầy, nhưng đừng chán nãn, hãy bám vào hy vọng, chúng mình bây giờ chỉ sống vào hy vọng thôi Phan à….Khánh còn định nói thêm nữa, nhưng tôi ngắt lời biểu nó đi kẻo gia đình đang đợi. Tôi không hiểu những giọt lệ ứ đọng trong mắt Khánh lúc bấy giờ là vì vui mừng sắp gặp người thân hay đang đau buồn cho thân phận tôi, tới giờ nầy vẫn chưa có ai thăm hỏi. Gia đình tôi ở tận miền Trung, xa xôi ngút ngàn, ngày nhận được lệnh nhập ngủ, tôi đang ở ‹à Lạt, chưa báo tin cho gia đình. Tuần vừa rồi, tôi vừa viết một bức thư dài về cho cha mẹ, trước báo tin tôi đã vào quân trường, sau an ủi hai đấng sinh thành hãy coi việc tòng quân của tôi là một hảnh diện, tu mi nam tử, đất nước lâm nguy, tổ quốc đang cần tới, hèn nhát trốn tránh, không làm tròn bổn phận người trai trong thời chiến, không phải là đặc tính của tôi.
Với hai mươi ba tuổi đời, giờ nầy tôi vẫn chưa có người yêu để thương để nhớ, chỉ những mối tình học trò, ngây thơ nhè nhẹ, vấn vương, rãi dài trong cuộc sống tha phương của người trai trẻ khi mới bước chân vào đời. Đang thả hồn vào mộng, tôi giật mình khi tên tôi được gọi để ra thăm viếng vì có người thân muốn gặp. Tôi vụt chạy ra chổ hẹn. Khánh đứng lên, vui cười giới thiệu, Phan, đây cha mẹ tao, Hương, em gái tao, rồi nói tiếp, tao không nở để mầy thẩn thơ một mình trong đó nên kéo mầy ra đây, vui vầy với gia đình tao, mầy tự nhiên, coi gia đình tao như gia đình mầy. Tôi chào cha mẹ Khánh và quay qua Hương, tôi mĩm cười nói đùa, chà cô Hương trông xinh tệ, Khánh nói nhiều về Hương nhưng bây giờ mới hân hạnh được gặp, cô vào đây chắc chút nữa “một đống” anh lính mới tò te như Khánh và anh sẽ chạy theo xin chữ ký và địa chỉ, mệt nghỉ. Hương đỏ mặt, đôi mắt tinh nghịch ngước nhìn tôi rồi trả lời, cám ơn anh đã khen tặng, em tới thăm, xa xôi lặn lội, tưởng anh Khánh của em vẫn như ngày nào, nhưng đâu ngờ gặp phải hai ông thầy tu, đầu trọc lóc, trong “Tiếu Lâm” Tự.
Mẹ Khánh bắt đầu đem đồ ăn trãi ra cỏ, vừa làm bà vừa nói, các con ngồi xuống hết đi, ăn lẹ kẻo đồ ăn nguội, bà gắp từng miếng thịt, từng miếng cá bỏ vào chén cho Khánh và tôi, âu yếm nhìn chúng tôi ăn. Hương không ăn, cứ nhìn chúng tôi, mĩm cười không nói, tôi biết là cô đang tìm cách để chế diễu hai cái đầu trọc của chúng tôi nên tôi chận trước, em Hương đừng lo cho hai cái đầu của Khánh và anh, “tre già măng mọc”, mai đây ra trường, đóng quân ở vùng đồi núi tốt, khí hậu ấm áp, tóc xanh sẽ mọc trở lại, sợ lúc đó cắt không kịp, phải thuê xe cắt cỏ tới húi. Cuộc vui nào cũng phải có lúc tàn. Nhưng đối với tôi, ngày vui hôm nay sẽ không bao giờ phai nhạt. Không khí ấm cúng, thân mật của gia đình Khánh, nét mặt ngây thơ, trong sáng cùng với đôi mắt tinh nghịch nhưng hiền dịu cuả Hương sẽ mãi ở trong tôi, tôi sẽ đóng khung vàng buổi chiều hôm lung linh, huyền diệu đó và đặt sâu trong tim tôi, sẽ theo tôi sau nầy trong những lúc hành quân xa xôi hay những lúc dừng chân nơi đèo cao hút gió.
Theo lời Khánh, nhà chỉ có hai anh em, Hương năm nay vừa tròn mười bảy tuổi, đang học tại trường Bùi Thị Xuân (BTX) Đà Lạt, gần trường Chính Trị Kinh Doanh (CTKD). Hồi còn ở Đà Lạt, chúng tôi một nhóm sinh viên trường CTKD thường hay đợi tới giờ tan học, đi tà tà tới gần trường BTX để có dịp ngắm các cô nữ sinh, thướt tha trong bộ áo dài đồng phục trắng, ngoài phủ cái áo len màu xanh, tung tăng trong gió chiều lồng lộng.
đang độ nghỉ hè, Hương xin phép cha mẹ về Sài Gòn ngụ tại nhà bà con để được dể dàng lên thăm Khánh. Từ đó, mỗi cuối tuần, chúng tôi thường náo nức để được gặp Hương; để được ăn những thức ăn nóng sốt từ Sài Gòn đem lên, bù lại những bữa cơm khê, cá mú trong tuần; để được ngắm nhìn bàn tay thon nhỏ, mềm mại của Hương loay hoay bày đồ ăn ra cỏ; để được nghe tiếng mời thành thật, lo âu của cô em nhỏ, “các anh ăn thật nhiều đi, ăn thật no để khỏi ăn gì hết suốt tuần”. Rồi có lần cô đùa nghịch, sau khi xới đầy hai bát cơm và thêm đồ ăn, nàng giao cho Khánh rồi nói “anh Khánh ăn thịt gà em tự nuôi ở vườn trà Bảo Lộc, còn anh Phan, ngoài tim gà, anh coi chừng có tim em ở trong đó.”, chúng tôi đều bật cười vui vẻ.
Chưa gặp Hương, tôi vui, cái vui của tuổi trẻ, của hồn nhiên. Sau khi gặp nàng, tôi buồn, cái buồn của mộng mơ, của mong ước chưa kết thành lời. Những buổi tối ôm súng trên “vọng gác đêm sương”, hình ảnh cuả Hương hiện ra chập chờn trong sương mù. Tôi mơ ước một ngày nào đó, sẽ cùng nàng, tay trong tay, dạo quanh bờ hồ Xuân Hương êm đềm, thơ mộng ở Đà Lạt; hay đi vào Thung Lũng Tình Yêu trong một đêm trăng sáng và nhiều sao trời lấp lánh; hay ngồi dưới những tàng cây thông già bên cạnh hồ Than Thở vào những ngày mưa lất phất, lành lạnh. Rồi ước mơ khi mùa Xuân tới, Xuân của đất trời và Xuân của riêng chúng tôi. Ngàn hoa đua nở, khoe sắc, hòa đồng với những nụ hoa vừa mới chớm trong đôi tim chúng tôi. Rồi những nụ hoa đó sẽ nở đầy khi hoa đã thắm, khi tình đã thâm, rồi cũng chính những bông hoa tươi thắm đó sẽ được cài lên áo cưới trong ngày hợp hôn của chúng tôi….
Thời gian ba tháng huấn nhục trôi qua mau chóng, ba tháng cũng là thời gian hết nghỉ hè, Hương phải trở về Đà Lạt để tiếp tục niên học mới. Ngày đại lễ gắn huy hiệu Alpha để qua giai đoạn huấn luyện mới, Hương từ chối không lên tham dự, viện cớ là phải chuẩn bị để trở về lại Đà Lạt.
Sau khi gắn Alpha, tất cả khóa sinh được nghỉ hai ngày cuối tuần, được phép xuất trại lần đầu tiên để về thăm gia đình. Khánh và tôi về Sài Gòn thăm Hương. Vừa thấy chúng tôi, nàng oà lên khóc rồi kể lể, em xin lỗi đã không đến dự “ngày trọng đại” của hai anh, em rất yếu đuối, sợ chia ly, sợ phủ phàng, sợ nước mắt nhạt nhòa khi phải xa người thân để trở về lại Đà Lạt, em định mai nầy sẽ lặng lẽ xa Sài Gòn, thì hai anh tới.
Hôm đó, tôi xin phép Khánh được đưa Hương đi dạo một vòng Sài Gòn. Bao ấp ủ, bao mong chờ nay đã thành sự thực. Hương như con chim non vừa rời khỏi tổ, líu lo cười nói bên tôi. Trong chiếc áo dài màu xanh da trời, bó sát thân hình thon nhỏ, mái tóc dài xỏa trên bờ vai nỏn nà trắng mịn, cùng với nét mặt thanh tú, đôi mắt hiền hoà, nàng đẹp như một cô gái trong tranh.
Gió chiều nhè nhẹ, với ánh nắng hoàng hôn sắp tàn, chúng tôi dìu nhau đi qua vài khu phố Sài Gòn và khi tới bến Bạch ‹ằng thì trời sắp tối. ‹êm về, nhịp sống Sài Gòn bắt đầu lắng dịu, xe cộ thưa dần, đèn đường heo hắt “ngọn mờ ngọn tỏ”. ‹âu đó, vài cặp tình nhân ngồi tình tự dưới ánh đèn lung linh mờ nhạt bên bờ sông. Hoa phượng vĩ, soi bóng dòng sông, cuối hè, màu đỏ bắt đầu phai nhạt, tả tơi rơi rụng khi ngọn gió thổi qua, theo dòng nước trôi đi xa xa. Thỉnh thoảng vài tiếng súng, tiếng đại bác vang vọng từ xa, hay những trái hỏa châu vàng vọt đốt cháy một vùng trời nho nhỏ như nhắc nhở dân Sài Gòn chiến tranh đang cận kề.
Càng về khuya, khí trời càng lạnh, sương đêm bắt đầu rơi nhẹ trên tóc, trên áo chúng tôi. ‹ang đi, tự nhiên Hương nép người vào tôi, sợ nàng lạnh, tôi vội cầm lấy tay nàng, tay Hương lạnh buốt và đang run rẩy trong bàn tay của tôi. Em Hương. Dạ. Anh mong đêm nay đừng tàn, màn đêm đừng xuống để chúng mình được đi mãi bên nhau. Tôi kéo nàng sát vào người, choàng tay qua ôm lấy nàng như để chuyền hơi ấm cho nhau. Hương ngoảnh đầu qua, dựa vào vai tôi, tôi hôn nhẹ qua làn môi tươi mát của nàng và nói qua hơi thở, Hương, anh yêu em! Thời gian như ngừng lại, chúng tôi say đắm trao nhau những nụ hôn đầu đời, tinh khiết, nồng cháy. Chỉ phút chốc, tôi thoáng thấy mắt Hương đẫm ướt, qua màn lệ, nàng thủ thỉ, Phan, anh có nghe tiếng súng thoáng xa không? Em sợ, tình chúng ta nồng, nhưng định mệnh chúng ta quá mong manh, em sợ mất được mãi mãi gần anh….
Hai ngày phép trôi qua nhanh chóng, Khánh và tôi về lại quân trường, Hương trở về Đà Lạt để tiếp tục năm cuối trung học. Khung trời cách biệt, chúng tôi chỉ nhờ những lá thư để thăm hỏi, để vun xới mối tình thắm thiết, càng ngày càng gắn bó giữa chúng tôi. Từ đây tôi không còn háo hức mong chờ vào những ngày cuối tuần để được gặp Hương. Vào những ngày đó, tôi thường ở lại phòng, đem những cánh thư với nét chữ thân thương, uốn nắn, để được nàng kể lại những vui buồn hàng ngày ở trường Bùi Thị Xuân, những buổi chiều tan học, những lúc các anh sinh viên trường Chính Trị Kinh Doanh tới, tìm cách chào hỏi, làm quen, nhưng nàng mãi tìm mà vẫn không bao giờ thấy tôi tới; rồi những buổi tối ở nhà, học khuya, sương lạnh giăng đầy bên khung cửa, tiếng gió thì thào như tiếng gọi của tôi, giật mình tung cửa chạy ra nhưng chỉ là bóng tối, hình ảnh của tôi vẫn mung lung, nhạt nhòa, mù mịt; rồi những đêm trăng sáng, sao trời lấp lánh, chớp chớp như ánh mắt cuả tôi đang nhìn nàng, nhìn mãi, nhìn mãi cho tới lúc trời sáng, cô đơn vẫn trở về với người em nhỏ; rồi những buổi tối mưa bay lất phất, nàng một mình xuống Thủy Tạ, tìm một chút sưởi ấm qua ly cà phê nóng, lòng đau như cắt khi nghe tiếng hát của Khánh Ly qua bản nhạc Chuyện Hoa Sim của Anh Bằng:


“…Ôi lấy chồng chiến binh

Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê…”.

 

Đông qua, Xuân tới. Mấy năm sau nầy, sau ngày Việt Cộng tấn công Tết Mậu Thân, quân trường không còn cho khóa sinh nghỉ phép vào dịp Tết Nguyên ‹án như thường lệ. Thương nhớ, tôi biên thư nhiều lần nhắn nhủ Hương về Sài Gòn thăm tôi vào dịp đầu Xuân năm nay. Nhưng gần Tết năm đó, tôi nhận được thư nàng: Anh yêu,
Xuân lại về trên đất nước thân yêu của chúng ta. Xuân năm nay khác hẵn 17 mùa Xuân trước của em. Năm nay, Xuân mang anh về cho em, mang cả một mùa Xuân tươi đẹp đến với em. đáng lý, trong nắng ấm cuả những ngày đầu Xuân, em phải ở bên cạnh anh, nâng niu, trìu mến mở gói quà anh tặng, và cũng được nhìn anh hiền hòa, âu yếm nhận lảnh tất cả tình yêu cuả em gói trọn trong món quà đầu năm, tặng anh. Nhưng như em đã nói với anh, em rất sợ chia ly, em không thể nào ngăn được dòng lệ tuôn trào khi biết trước, hợp rồi sẽ tan, vài ngày vui bên anh rồi xa cách nhau ngàn trùng. Không tới với anh trong thời gian xa vắng nầy là cả một hy sinh to lớn đối với em, vì em không muốn sau khi chia tay, anh sẽ bận tâm, buồn phiền, xao lãng bổn phận hàng ngày của anh. Em hứa, mùa Xuân sau, khi anh đã ra trường, đã được tự do phần nào, em sẽ tới với anh dù anh đóng quân nơi tiền đồn xa vắng, hay đang xông pha trong vùng trời lữa đạn, em sẽ gom góp hết tất cả hoa Mai, hoa Đào đang rạng nở ở Đà Lạt, đem đến tặng anh để chúng mình cùng nhìn ngắm trong ba ngày Tết.
Anh yêu, mùa Xuân năm nay cũng khác hẵn những mùa Xuân trước. Mấy năm trước, giờ nầy, lòng em hớn hở khi hoa Mai vừa chớm nụ; tâm hồn em thơi thới khi gió Xuân thổi về trên ngàn cây, ngọn cỏ; khi những con chim nhỏ líu lo, tíu tít, đua hót trên cành. Giờ đây, cũng những cành hoa Mai đó, vàng tươi nở đầy; cũng những làn gió trong lành, ngát hương, thổi về trên vạn vật; cũng những con chim nhỏ bay nhảy tung tăng trong nắng sớm ban mai, nhưng em không cảm thấy náo nức như ngày nào. Ra đường thấy thiên hạ đua sắc khoe màu, thấy những đôi tình nhân trẻ, âu yếm dưới những rặng thông xanh mướt ven đường, em lại thấy trống vắng, cô đơn lạ thường. Những lúc đó, tâm hồn em không còn ở ‹à Lạt nữa mà lại bay về với anh, ở bên cạnh anh. Em vui sao được khi em biết giờ nầy anh đang khổ công tập luyện, giờ nầy anh đang ôm súng một mình đứng gác trên chòi canh hay đang băng rừng lội suối trong những đêm di hành xa xôi, tăm tối.
Anh yêu, thư trước, anh hứa sau khi ra trường, dù đồn trú nơi đâu, cứ mỗi độ Xuân về, anh sẽ lên ‹à Lạt thăm em vào những ngày đầu năm. Anh biết không, em đang sống thật đẹp trong giấc mơ hạnh phúc đó. Em mơ, một mùa Xuân năm nào, không báo trước, anh sẽ xuất hiện đúng lúc tiếng pháo giao thừa đang rền nổ, em sẽ ngạc nhiên, sung sướng, ngã vào vòng tay rắn chắc của anh. Em mơ, một mùa Xuân nào đó, vào một đêm sáng sao, chúng mình đi lạc vào một khu rừng, có suối chảy róc rách, gom hết hoa rừng Đà Lạt làm gối mềm, ngắm nhìn sao trời lấp lánh, em sẽ khe khẻ hát anh nghe bản nhạc Mộng Dưới Hoa của Phạm Đình Chương:


“…Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em dựa sát lòng anh
Ta đi vào tận rừng xanh
Vớt cánh rong vàng bên suối
Ôi, hoa kề vai hương ngát mái đầu
Đêm nào nghe bước mộng trôi mau
Gió ơi, gởi gió lời tâm niệm
Và nguyện muôn chiều ta có nhau…”.


Đáp lại, anh sẽ se sẽ ngâm bài thơ Còn Chút Gì để Nhớ của Vũ Hữu Định để làm quà Tết tặng em:


“…Em ‘Đà Lạt’ má đỏ môi hồng
Ở đây buổi chiều quanh năm mùa Đông
Nên tóc em ướt và mắt em ướt
Nên em mềm như mây chiều trong
Phố núi cao phố núi trời gần
Phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn củ
Một buổi chiều nào lòng vẫn bâng khuâng…”.


Em còn mơ, mai đây đất nước thanh bình trở lại, anh sẽ về bên em mãi mãi, lúc đó, mỗi năm em sẽ có 365 ngày Tết, lúc đó mỗi năm em sẽ có 4 mùa Xuân trọn vẹn của riêng em và anh …. Thấm thoát thoi đưa, ngày mãn khóa của chúng tôi đã tới. Khánh chọn ngành Biệt ‹ộng Quân, đổi về Quảng Trị, tỉnh địa đầu của miền Nam VN, còn tôi lên tận Pleiku, núi đồi trùng điệp. Sau khi Mỹ rút khỏi VN, VC tấn công khắp nơi, quân số cuả VN thiếu hụt, sĩ quan vừa tốt nghiệp tại các quân trường phải lao ngay vào lữa đạn, không được một ngày nghỉ phép, không được cho tôi một phút giây nhìn thấy Hương. Tuy xa nhau nhưng Khánh và tôi vẫn luôn liên lạc bằng thư, bằng điện thoại dã chiến, kể nhau nghe những lúc truy lùng diệt giặc, những lúc hành quân vào những vùng rừng núi xa xôi. Hương đã tốt nghiệp trung học, hiện đang học năm thứ nhất ở Viện ‹ại Học ‹à Lạt. Mối tình của chúng tôi vẫn nồng nàn, gắn bó qua những cánh thư ngạt ngào tình yêu. Thế rồi một hôm tôi được hung tín từ một người bạn trong Bộ Chỉ Huy của Khánh, báo cho biết Khánh vừa từ trần ngày hôm trước. Trung ‹ội của Khánh bị tấn công dữ dội, một quả pháo kích rơi đúng vào hầm trú khi anh đang chỉ huy cuộc phản công. Tôi lặng người, chết điếng. Trong cuộc sống phong sương, dày dạn, tôi chưa bao giờ đau buốt như lúc này, tôi vừa mất đi một người bạn thâm tình, một chiến hữu tôi hằng quý mến. Còn Hương, nàng sẽ đau khổ đến độ nào khi hay tin người anh thân yêu đã ra người thiên cổ lúc tuổi đời vừa tròn 25.
‹ầu năm 75, khói lữa chiến tranh càng ngày càng khốc liệt. Các tỉnh miền Trung từ từ lọt vào tay Cộng Sản rồi tới các tỉnh vùng Cao Nguyên và cuối cùng Sài Gòn, phải thúc thủ đầu hàng cho giặc vào cuối tháng Tư năm đó. ‹ất nước trong cảnh hổn loạn, mọi người xô đẩy, chà đạp lên nhau để tìm đường sống. Từ Pleiku, tôi băng rừng lội suối, cố về ‹à Lạt tìm Hương để cùng nàng thoát thân. Tới nơi, căn nhà hoang vắng, hàng xóm chung quanh cho biết gia đình đã về Bảo Lộc mấy ngày trước. Tôi vội vàng xuống Bảo Lộc. Vườn trà tan nát, nhà cửa cháy rụi, tiêu điều xơ xác. Không có cách nào hơn, tôi vội tìm cách về SG rồi từ đó trốn ra nước ngoài.
Hơn hai mươi năm trôi dạt nơi xứ người, cuộc sống của tôi vẫn chưa ổn định. Tôi không thể nào quên được Hương, người yêu bé bỏng cuả tôi thuở nào. Từ ngày qua đây, mặc dầu bận rộn công việc làm ăn để hội nhập vào cuộc sống mới, không ngày nào tôi không quên để tâm tìm kiếm nàng. Tôi đi từ tỉnh nầy qua tỉnh khác, dọ hỏi bất cứ ai để mong tìm được một vài tin tức về nàng, nhưng ngày qua ngày, tin nàng vẫn biền biệt. Thế rồi, mùa Xuân năm đó, trong một chuyến đi công tác việc sở ở Cali, tôi ghé một tiệm ăn ở vùng Bolsa. Trong lúc ăn, tôi chợt thấy một bà cụ, khoảng chừng 65 tuổi, tóc bạc phơ, đang quét dọn bên trong tiệm. Lúc đầu tôi không để ý, nhưng nhìn đi nhìn lại, tôi thấy ở bà có một vài nét quen thuộc mà hình như có lần tôi đã từng gặp. Tim tôi như ngừng đập, trí nhớ của tôi cũng vừa loé lên, có thể nào, tôi vội tiến tới chổ bà cụ.
- Thưa bác, có phải bác là mẹ của anh Khánh và cô Hương ở Đà Lạt.
Bà cụ giật mình nhìn tôi, bước lui một bước, sững sờ, rồi bà ôm chầm lấy tôi, run rẩy, nói không ra lời. Với nước mắt chảy nhoà trên hai gò má nhăn nheo, bà hổn hển tiếng mất, tiếng còn, trời đất, Phan, con còn sống sao, bác tưởng con đã theo Khánh ra đi…. Hôm đó, bà xin nghỉ việc sớm, dẫn tôi về nhà. Trong căn phòng nhỏ, bà cho biết:
“Từ ngày được tin Khánh mất, Hương như người mất hồn, không tha thiết gì tới chuyện học hành, ngày ngày cứ đi ra đi vào, tâm thần để tận đâu đâu. Hai anh em thân nhau từ nhỏ, chia sẻ từng chén cơm, manh áo. Khánh mất đi, mang theo hơn nửa cuộc đời của nàng. Vết thương tử biệt chưa lành thì biến cố tháng Tư 75 xảy ra. ‹êm đó, thành phố Đà Lạt bỏ ngõ, chém giết, trộm cướp xảy ra khắp nơi. Chúng tôi bỏ hết đồ đạc, nhà cửa, trốn về Bảo Lộc. Nhưng vài đêm sau đó, VC tràn vào thôn xóm, đốt phá hết vườn tược, nhà cửa, chúng tôi lại một lần nữa khăn gói về SG, rồi về vùng Lục Tỉnh để tìm cách trốn đi.
Một tháng sau đó, chúng tôi móc nối được với một nhóm tổ chức vượt biển, liều chết ra đi. Trên đường đi, giữa biển khơi mênh mông, thuyền chúng tôi bị một nhóm hải tặc chận lại, chúng lên thuyền vơ vét hết đồ đạc, của cải rồi manh tâm hảm hiếp đàn bà, con gái. Tới lượt Hương, bác trai đau đớn, không chịu nổi, lao vào để cứu nàng, nhưng bị tên giặc biển đâm một nhát sau lưng, chết trước cặp mắt kinh hoàng cuả Hương. Quá đau khổ, nàng định nhảy xuống biển tự tử, nhưng rồi chúng tôi nhanh tay cứu kịp.
Sau vài ngày lênh đênh trên biển cả, chúng tôi được một tàu Mỹ cứu và đem về định cư ở vùng Cali nầy. Chỉ vài tháng sau đó, Hương bắt đầu ngã bệnh, nằm mê man suốt gần tháng trời. Khi tỉnh dậy, nàng không còn trí nhớ, cười nói vu vơ cả ngày. Bác sĩ cho biết có quá nhiều xúc động đã xãy ra liên tiếp, ảnh hưởng tới bộ thần kinh của nàng và bác sĩ còn nói có thể nàng sẽ không bao giờ trở lại bình thường được nữa”.
Hôm sau tôi và mẹ Hương vào bệnh viện thăm nàng. Vừa thấy chúng tôi, nàng cười nói huyên thuyên, chào anh Khánh, anh có phải anh Khánh của em không, chào anh Phan, anh có phải anh Phan của em không. Rồi cứ vậy nàng lặp đi lặp nhiều lần, không đâu vào đâu….
Hương em!
Gia sản của anh giờ đây không còn gì cả, chỉ còn lại những bức thư, em đã âu yếm gửi anh từ ngày chúng mình quen nhau, anh luôn luôn mang theo như bảo vật của đời anh. Có nhiều bức thư, anh đã đọc đi đọc lại nhiều lần đến độ nhàu nát. Trong thư, em ước mơ một mùa Xuân nào đó, khi thanh bình trở lại, chúng mình sẽ mãi mãi bên nhau. Bây giờ thanh bình đã trở lại, mùa Xuân đã về, anh đã ở cạnh em, nhưng đời em, còn lại, chỉ là những mùa đông dài vô tận!!!....

Note: Nguyễn Thế Tất (Tất Nguyễn) thuộc nhóm PCT5460, du học Mỹ từ năm 1972, hiện sinh sống tại Indiana.